Thông tin Hội thả chim làng Dục Tú

(Việc tổng hợp và sắp xếp các Hình ảnh được chụp bởi du khách đều được thực hiện tự động bởi một chương trình máy tính. Tuân thủ "Điều khoản" từ flickr.com )
  • Tour thăm huế 1 ngày

Ngày hội thả chim cũng là dịp để các bậc cao niên tề tựu đông đủ trong ngôi đình cổ kính của làng Dục Tú, huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội.

Dục Tú tòng tiền khảo điểu phi
Niên biên truyền thưởng xã thôn chi
Thiên nhân thảm mục đồng minh thị
Nội chịch công bằng bất lãm khi

Đại ý là:

Từ xưa Dục Tú có lệ hay
Hằng năm truyền thống thả chim bay
Thi chim có nghệ tài cao thấp
Giám khảo công bằng khán giả say…
Huyền thoại về một loài chim


Ông Đỗ Duy Tín, giáo viên văn sử, quê Lộc Hà (Đông Anh) - người chuyên nghiên cứu về phạm trù văn hoá thôn làng vùng Châu thổ sông Hồng, tâm sự: Hội thả chim bồ câu ở Dục Tú được tổ chức vào dịp tháng 3 âm lịch hàng năm là do ảnh hưởng từ đất Kinh Bắc (xưa) xuất xứ từ thời Lý, cách đây hàng nghìn năm
Hương thơm của đất trời toả ra từ ấm trà được ướp hương hoa sen qua đêm ở dưới ao làng cứ vấn vít vào những câu chuyện huyền thoại về một loài chim qua lời kể của các cụ, khiến cho lớp hậu duệ con cháu trong làng, trong xã như càng được vỡ vạc thêm nhiều điều bổ ích và lý thú.
Tương truyền rằng: Vào một hôm trời quang muôn dặm, ánh dương chiếu khắp, cảnh sắc tươi vui, Đức Phật đi thưởng ngoạn ở ven rừng, bỗng thấy một con chim ưng đang đuổi theo một con chim bồ câu. Trước nguy cơ có thể bị mất mạng, chú bồ câu non nớt vội sà vào lòng phật để lánh nạn.
Đức Phật liền giang tay bảo vệ, che chở cho chim bồ câu. Chim ưng bèn xếp cánh đáp xuống một cành cây và nói: “Ngài muốn cứu chim bồ câu thoát chết, lẽ nào lại để cho tôi bị chết đói?”. Đức Phật ung dung lên tiếng: “Ngươi cần những gì để no lòng, ta đây sẵn sàng cung cấp cho ngươi”. Chim ưng liền đáp: “Tôi muốn ăn thịt”. Đức Phật liền rút ra một con dao nhỏ, thản nhiên cắt từng miếng thịt ở cánh tay mình cho chim ưng. Nhưng chim ưng chê ít, rồi mặc cả: “Không bằng thịt bồ câu”. Đức Phật lại cắt tiếp, nhưng càng cắt thịt ở cánh tay cho tới gần hết mà vẫn không làm sao đủ nặng bằng thịt bồ câu.
Chim ưng hỏi phật có hối hận hay không, Phật đáp: “Ta hoàn toàn không hối hận một mảy may nào hết. Vì muốn cứu vớt mọi sinh linh thì thịt cánh tay của ta có gì là đáng tiếc. Nếu lời nói này của ta xuất phát từ lòng chí thành thì mong thịt cánh tay của ta sẽ liền lại như trước”.
Đức Phật vừa cầu nguyện xong, quả nhiên thịt cánh tay Ngài trở lại như trước. Chim ưng liền hiện nguyên hình vị Đế Thích, rồi vút lên không trung hướng về Đức Phật thi lễ, miệng không ngớt tán thán rồi bay đi…
Tin Đức Phật vì lòng từ bi cắt thịt cánh tay mình hiến cho chim ưng chẳng bao lâu truyền đi khắp nơi, khiến mọi người đều ca ngợi đức hy sinh cao cả của một bậc vĩ nhân. Và sự khát khao của loài chim bồ câu cũng là biểu tượng cho tự do – hoà bình. Dựa vào những đặc tính ấy của loài chim mà từ lâu, ông cha ta đã sáng tạo ra một lối chơi dân gian tao nhã: Thi thả chim bồ câu.
Đại đa số những người tham gia hội thả chim ở Dục Tú đều thuộc hạng đẳng cấp và thiên hạ suy tôn xếp vào hàng “thượng thừa”. Bởi hầu hết trong số họ phải có nền tảng kinh tế vững, có trình độ thẩm mỹ văn hoá cao, đủ sức tranh tài… Đặc biệt, phải hội tụ được 4 yếu tố cơ bản, đó là: Siêu việt, cao đại, công phu và kiên nhẫn.
Cụ Nguyễn Văn Lạc, 91 tuổi, làng Dục Tú, nguyên là cán bộ trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (nay là trương đại học Mỹ thuật Việt Nam), cụ Lạc là người rất am hiểu về thú chơi chim bồ câu, sôi nổi: Để có vài phút dự thi thật là ngắn ngủi, chủ chim đã phải chuẩn bị nuôi, luyện chim trước đó hàng năm trời. Với đội hình đàn chim có từ 10 con trở lên, người chơi chim đã phải tốn mất từ 4 đến 8 tạ thóc để nuôi chúng; ấy là chưa kể công phu luyện tập, rèn giũa chúng trở thành những “vận động viên” xuất sắc…
Mặt khác, các tiêu chuẩn đặt ra cũng hết sức nghiêm ngặt như: Ngay từ ban đầu phải chọn giống chim màu ghi đá, mắt nhỏ đen tuyền, ức nở, mình thon, đuôi cụp, thân chắc nịch, lông bóng mượt…nhưng trọng lượng mỗi con chỉ bằng 2/3 trọng lượng chim bồ câu thường. Vì giống chim này mang sắc thái bản địa của loài chim hoang dã, nó có thể thích ứng cao với mọi điều kiện thời tiết, sinh sôi nảy nở nhanh, lại không bị lai tạp đồng hoá. Nuôi cả đàn ba, bốn chục con may ra chỉ chọn được vài con đi dự Hội.
Cũng theo như lời cụ Lạc thì, trong khi luyện tập phải tuân thủ nguyên tắc “nén mái”, nghĩa là làm giảm bớt độ “yêu” của chim để tăng sức bay cao, bay xa hơn…(chim đi thi chủ yếu là giống đực). Chăm sóc chim cũng phải bằng các loại thức ăn cao cấp như: đậu xanh xay nhỏ, vừng bóc vỏ, lạc giã nhỏ. Ngoài ra còn mua lươn nhỏ về cho chim ăn.
“Cơm chín tái, gái một con, ngồng cải non, chim sen ràng” (đang độ thăng hoa nhất). Nắm bắt qui luật này, khi chim đã đủ lông đủ cánh (men ràng) chủ chim bắt đầu cho bay, qua men ràng vặt chụi lông để ra đợt lông khác, mục đích tạo ra chất nhờn làm cho lông chim lúc nào cũng bóng mượt, ít có khả năng ngấm nước, giảm trọng lượng khi chim bay.
Ông Nguyễn Xuân Ánh (đệ nhất chơi chim ở làng Dục Tú), giới thiệu với chúng tôi: Công đoạn luyện chim tuy không cầu kỳ, phức tạp nhưng lại đòi hỏi đức tính kiên nhẫn của chủ chim rất cao. Chẳng hạn, ban đầu, cả đàn chim sẽ được lùa lên mái nhà, chủ chim lấy sào khua từ từ để cho chim tập bay, nhưng không cho bay vào buổi sáng sớm, vì thời điểm này nhiệt độ thấp, khí áp cao nên rất dễ gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của chim.
Sau khi đã tập bay ở nhà thì di chuyển ra ngoài đồng, tạo cho chim thuần thục các kỹ năng, kỹ xảo, chiến thuật bay theo đúng ý định của chủ, nếu không trong lúc dự thi, rất dễ xảy ra tình trạng “vô kỷ luật” mắc phải các lỗi như: “Tiên hành” (có một con trong đàn chơi trội vượt lên cao phía trước), hay “đại tràng” (bay giăng giăng cả đàn như xếp chữ) thì hỏng hết tiền của công sức cả một năm nuôi nấng luyện rèn…

.